Bệnh phong có còn là “tứ chứng nan y”?

0

Phong có tên khoa học là Leprosy – từng được coi là một trong “tứ chứng nan y” nhưng với những tiến bộ của khoa học, công cuộc chống phong đã có những bước tiến lớn trong nhiều năm qua.

 

Thống kê về bệnh phong

Bệnh phong đã được biết đến từ rất lâu trong lịch sử. Các tài liệu từ những năm 1400 trước Công nguyên ở Ấn Độ, Trung Quốc đã mô tả hình ảnh lâm sàng tương đối điển hình của bệnh phong. Đó có thể là những nơi đầu tiên xuất hiện phong và theo thời gian, bệnh dần lan tràn một cách chậm chạp tới tất cả các nước trên thế giới.

Bệnh phong từng được coi là một bệnh nan y và không thể chữa khỏi, những người bị phong thường bị hắt hủi và bị cách ly khỏi xã hội cho đến năm 1873 khi Armauer Hansen tìm ra được căn nguyên của bệnh. Kể từ đó, việc điều trị bệnh phong mới được chú ý và đi đúng hướng.  Từ năm 1982, khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo điều trị bệnh phong bằng đa hóa trị liệu thì tỷ lệ lưu hành bệnh phong mới giảm một cách đáng kể. Hơn 10 triệu bệnh nhân phong được chữa khỏi đã tạo nên cuộc cách mạng trong công cuộc chống phong trên toàn thế giới.

Bệnh phong có còn là "tứ chứng nan y"? 1

Việt Nam đã đạt được tiêu chuẩn loại trừ bệnh phong của WHO từ năm 1995 với tỷ lệ lưu hành là 0,9/10.000 dân số (dưới 1/10.000). Tuy nhiên, hàng năm nước ta vẫn có thêm 900-1000 người mắc mới căn bệnh này. Tuy vậy thì mục tiêu cuối cùng là phải thanh toán hoàn toàn bệnh phong, giảm đến mức tối đa những hậu quả của bệnh gây ra nên chương trình phòng chống phong vẫn phải được duy trì nhằm phát hiện sớm và điều trị kịp thời tất cả các bệnh nhân, đồng thời phục hồi chức năng cho những bệnh nhân bị tàn tật. (1)

 

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phong còn có các tên gọi khác như phung, hủi, cùi hay bệnh Hansen.  Là bệnh nhiễm trùng do trực khuẩn Mycobacterim leprae được nhà bác học người Na Uy Armauer Hansen phát hiện năm 1873 ra gây nên. Vi khuẩn này có hình thẳng, kháng cồn, kháng toan, bắt màu đỏ khi nhuộm  Ziehl-Neelsen và bắt màu tím khi nhuộm Gram.
Trực khuẩn phong có sức đề kháng yếu, chỉ có thể sống được 1-3 ngày khi ra khỏi cơ thể  và quá trình nhân lên chậm do chu kỳ sinh sản kéo dài 12-13 ngày. Cho đến nay, người ta vẫn chưa nuôi cấy được trực khuẩn này trên môi trường nhân tạo nên chưa chế tạo được vắc xin phòng bệnh phong.

Phong được coi là bệnh lây và lây qua da và niêm mạc bị xây xát nhưng tỉ lệ lây nhiễm cực kì thấp, ngay cả với vợ chồng là những người thường xuyên gần gũi thì tỷ lệ này cũng chỉ khoảng 3-5%. Các nghiên cứu chỉ ra rằng tuổi càng nhỏ thì khả năn nhiễm phong càng cao và nam thường bị phong nhiều hơn nữ.

Bệnh khó lây là do cơ thể có miễn dịch chéo với lao và các bệnh Mycobacterim leprae khác và không phải thể nào của phong cũng lây. Hơn nữa do quá trình sinh sản của vi khuẩn kéo dài nên các thuốc điều trị đặc hiệu có thể cắt đứt nguồn lây dễ dàng.

 

Các thể phong

Có nhiều cách phân loại bệnh phong, tùy theo từng nước và từng khu vực. Nhưng cách chia phổ biến nhất là theo bảng phân loại Madrid 1953 – bảng được công nhận tại Hội nghị chống phong quốc tế tại Madrid, Tây Ban Nha năm 1953. Theo đó phong được chia thành 4 thể I, T, B, L.

  • Thể bất định (I-Indeterminate): Đây là thể đầu tiên hoặc là giai đoạn sớm của bệnh. Nếu sức đề kháng của cơ thể tốt bệnh có thự tự lành, còn nếu không thi sẽ biến thành thể t, B hoặc L.
  • Thể củ (T-Tuberculoid): Thể này có sức đề kháng tốt nên 50% có thể tự khỏi hoặc có thể điều tri khỏi nhanh.
  • Thể trung gian (B-Borderline): Thể này mang đặc điểm của thể củ và thể u , không thể tự khỏi nếu không điều trị.
  • Thể u (L-Lepromatous): Đây là thể nặng, trước đây gọi là thể ác tính.

Ngoài ra, để tiện áp dụng cho việc điều trị tại cộng đồng, trong điều kiện thực địa, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phân bệnh phong thành 2 nhóm sau đây:

  • Nhóm ít vi trùng (PB-Paucibacillary): những bệnh nhân không có trực khuẩn phong (chỉ số BI-Bacterial Index bằng 0) hoặc chỉ có từ 1-5 thương tổn da. (thường là thể T và I).
  • Nhóm nhiều vi trùng (MB-Multibacillary): gồm những bệnh nhân có từ 6 thương tổn da trở lên hoặc chỉ số BI dương tính.  (thường là thể B và L).

 

Triệu chứng của phong

Thời kỳ ủ bệnh của phong tương đối lâu, trung bình là 3 năm nhưng có thể lên đến 5 năm hay 10 năm. Trong thời kỳ này không có các biểu hiện cụ thể nào để có thể xác định là bệnh nhân có bị phong không. Tuy nhiên khi khởi phát thì cũng có những triệu chứng như:

Tổn thương da

  • Bao gồm các dát có màu trắng, thâm hoặc hồng. Ranh giới giữa các rãnh có thể rõ hoặc không. Không thâ nhiễm, không nổi cao, kích thường không đồng đều và có số lượng ít, thường gặp trong thể phong bất định (I).

Bệnh phong có còn là "tứ chứng nan y"? 2

  • Các thương tổn củ nổi cao hơn mặt da, ranh giới khá rõ với da lành, có dạng củ tỏ, củ nhỏ và mảng củ. Dấu hiệu này gặp trong phong thể củ (T).
  • Với phong thể u có xuất hiện các u phong, cục: đó là những thương tổn lan tỏa, đối xứng và có anh giới không rõ với da lành, thâm nhiễm sâu và có số lượng lớn.
  • Trong thể trung gian thì xuất hiện các mảng thâm nhiễm có thương tổn vừa lan tỏa, vừa giới hạn.

Thương tổn thần kinh

  • Rối loạn cảm giác: người bệnh bị mất cảm giác đau, nóng lạnh hay cảm nhận da trở nên yếu ớt hoặc mất hẳn.
  • Viêm dây thần kinh: các dây thần kinh ngoại biên viêm to (hay bị nhất là dây trụ, dây thần kinh cổ nông, dây quay, dây chày sau, dây thần kinh hông khoeo ngoài, dây giữa… Nếu không điều trị kịp thời có thể dẫn đến tàn tật như: Cò ngón tay, ngón chân, bàn chân rủ, hở mi…

Rối loạn bài tiết

Do không thể bài tiết mồ hôi khiến da người bệnh khô hoặc bóng mỡ.

Rối loạn dinh dưỡng

Những biểu hiện thường thấy là rụng 1/3 lông mày ngoài, loét ổ gà (lỗ đáo), tiêu xương, xốp xương, teo cơ cẳng tay, bàn tay, cẳng chân.

Rối loạn vận động

Bàn tay bị cò, chân cất cần nên việc đi lại hay cầm nắm trở nên rất khó khăn. Đây được coi là biểu hiện do triệu chứng viêm dây thần kinh không được phát hiện và chữa trị kịp thời gây nên.

Một số tổn thương khác do phong gây nên như:

  • Viêm mũi, viêm họng, thanh quản, viêm giác mạc, mống mắt..
  • Viêm tinh hoàn
  • Vú to ở đàn ông
  • Tìm thấy trực khuẩn Mycobacterim leprae ở một số cơ quan như gan, lách, hạch..nhưng không có thương tổn.

 

Phong có chữa được hoàn toàn không?

Trước năm 1941, phong không có thuốc đặc trị nên hiệu quả điều trị bằng dầu chaulmoogra, sulfonamid hay promin rất hạn chế. Khoảng thời gian từ năm 1941-1980, điều trị bằng DDS khá hiệu quả tuy nhiên thời gian điều trị rất lâu và kéo dài. Thời gian này bắt đầu xuất hiện chủng M.leprae kháng thuốc. Bắt đầu từ năm 1981 đến nay, Tổ chức y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo sử dụng đa hoá trị liệu (Multidrug therapy) thay thế trị liệu đơn hoá trị liệu để điều trị phong với p mục đích chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân nhưng quan trọng là tránh tàn phế, hạn chế lây lan.

Bệnh phong có còn là "tứ chứng nan y"? 3

Với thể phong ít vi khuẩn, các loại thuốc được sử dụng là rifampicin và DDS trong thời gian 6 tháng.

Với thể nhiều vi khuẩn, rifampicin, DDS và clofazimin được sử dụng theo chỉ định của bác sĩ.

Ngoài uống thuốc, bệnh nhân phong còn được kết hợp các phương pháp điều trị khác nhằm phục hồi chức năng, chống tàn phế, điều trị chỉnh hình và ngoại khoa, nạo phẫu thuật ổ gà, chuyển gân điều trị liệt dây thần kinh. (2)

Khi bị phong, người bệnh không nên gãi ngứa bởi nó sẽ làm cho da bị xay xước tổn thương chảy máu, làm tăng cơ hội viêm nhiễm gây sẹo trên da và không tắm nước lạnh để tránh làm bệnh nghiêm trọng hơn. Và trên hết là phải tuân thủ theo chỉ dẫn của bác sĩ, không được tự ý mua thuốc hay điều trị tại nhà.

 

Biến chứng phong

Vốn dĩ vi khuẩn phong không tạo ra độc tố và không gây độc  nhưng với các thể u nặng, bệnh có thể để lại các biến chứng nguy hiểm do sự lan toả của vi khuẩn phong trong các tổ chức. Đó có thể là:

  • Kháng thuốc: biến chứng này chiếm khoảng 15% bệnh nhân nhiều vi khuẩn điều trị đơn hoá Dapsone sau 5 – 20 năm. Khi đó bệnh của bệnh nhân bắt đầu tiến triển theo kiểu phong u điển hình mặc dù đơn trị liệu được giám sát liên tục, hoặc là thường gặp hơn là các u phong mới xuất hiện rải rác trên bối cảnh bệnh đã hồi phục. Một sốtổn thương tái phát ở mắt hay thần kinh, giảm thị lực hay các triệu chứng của viêm mống mắt hoặc viêm thần kinh xuất hiện, hoặc có phản ứng phong.

Bệnh phong có còn là "tứ chứng nan y"? 4

  • Phản ứng phong: đó là sự xuất hiện các triệu chứng và dấu chứng của tình trạng viêm cấp ở các tổn thương của bệnh nhân phong. Gây ra các tổn thương da như đỏ, sưng và đôi khi nhạy cảm. Đối với thần kinh là sưng, đau, nhạy cảm, mất chức năng thường đi kèm. Thương tổn mới có thể xuất hiện.
  • Vi khuẩn phong xâm nhập và lan tỏa vào các tổ  chức: các biểu hiện viêm mũi, viêm họng, viêm củng mạc, viêm mống mắt, viêm tuyến lệ, viêm đốt ngón, teo tinh hoàn, sưng hạch và bệnh lý cơ nhưng thường chỉ gặp ở bệnh nhân phong thể nhiều vi khuẩn.
  • Tổn thương thần kinh: gây ra các tổn thương thần kinh là cảm giác, vận động và tự động (thực vật).
  • Suy giảm miễn dịch.
  • Hoại tử tổ chức, loét gan chân, viêm mô tế bào thứ phát do vi khuẩn và viêm xương tuỷ xương, mất các  ngón bàn tay- bàn chân tiến triển. (3)

 

Share.

Leave A Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.