Bệnh gout và thực trạng đáng báo động

0

Gout hay thống phong là bệnh khớp vi tinh thể do rối loạn chuyển hóa các nhân purin, có đặc điểm chính là tăng acid uric (AU) máu, gây lắng đọng tinh thể monosodium urat ở các mô. Bệnh phổ biến ở nam giới nhiều hơn và gây ra những cơn đau khủng khiếp. Đáng buồn khi tỉ lệ mắc gout đang gia tăng rất nhanh, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới.

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động 1

Những con số thống kê giật mình về bệnh gout

Gout không phải là căn bệnh thời hiện đại khi nó đã được biết đến tư nghìn năm về trước nhưng thực trạng hiện tại rất đáng báo động khi tỷ lệ người mắc căn bệnh này càng gia tăng và có xu hướng trẻ hóa.

Theo thống kê, số người bị gout chiếm 0.02-0.2% dân số thế giới và bệnh thường gặp ở các nước phát triển. Trong đó tỷ lệ gout ở các nước như Mỹ, Nhật, NewZeland và Trung Quốc là tăng nhanh nhất. Năm 1996, tỷ lệ mắc bệnh gout ở Mỹ là 0.94%, tại Anh và Đức những năm 2000-2005 là 1,4% và đặc biệt, riêng cư dân của 5 thành phố Trung Quốc tỷ lệ người mắc bệnh đã là 1,14%.

Tại Việt Nam, gout trước nay không phổ biến bởi nó được ví như căn bệnh của nhà giàu, chỉ có người giàu ăn nhiều thừa đạm mới bị gout. Tuy nhiên bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 20, số người bị gout tại Việt Nam đã gia tăng chóng mặt.

Theo thống kê của Khoa xương khớp Bệnh viện Bạch Mai tốc độ gia tăng của bệnh là rất đáng báo động kkhi các bệnh viêm khớp do gout từ năm 197801989 chỉa là 1,5% nhưng đã tăng đến 6,1% vào những năm 1991-1995 và 10,6% trong giai đoạn 1996-2000. Bệnh gout đang chiếm vị trí thứ 4 trong số các bệnh khớp nội trú thường gặp..

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động nguyên nhân

Theo khảo sát của Viện Gout, trong khoảng 5 năm từ tháng 7 năm 2007 đến tháng 7 năm 2012 trên cả nước có hơn 22.000 người mắc bệnh gout và ghi nhận số bệnh nhân gout tại TP HCM là lớn nhất khi lên tới 8.246 người, chiếm hơn 1/3 bệnh nhân gout  trên cả nước. (1)

Gout thường gặp chủ yếu ở nam giới trung niên (30-40 tuổi) với tỷ lệ lên đến 95%. Phụ nữ không phải là không có khả năng bị gout nhưng thường ở độ tuổi 60-70.

Có bao nhiêu loại gout và nguyên nhân gây bệnh là gì?

Nguyên nhân gây bệnh gout là do khi nồng độ acid uric trong máu tăng cao, vượt quá giới hạn tối đa của độ hòa tan của urat trong huyết thanh và sẽ xảy ra hiện tượng lắng đọng urat ở một số tổ chức, đặc biệt là màng hoạt dịch khớp, sụn xương, gân, tổ chức dưới da, nhu mô thận và đài bể thận… Và từ nguyên nhân gây bệnh, y học chia gout thành 3 loại:

  • Gout nguyên phát: chiếm đa số trong các trường hợp bị gout với tỷ lệ trên 95%, vì thế khi nói đến gout thường là nói đến gout thứ phát. Nguyên nhân có thể được kể ra như:

+ Yếu tố di truyền: nghiên cứu chỉ ra rằng 1/3 bệnh nhân gout có cha mẹ cũng bị bệnh này. Gia đình có bệnh nhân gout thì 20% trường hợp có nguy cơ bị tăng acid uric máu do tổn thương thận làm giảm sự thanh thải urat qua thận.

+ Do thói quen ăn uống: bia rượu chứa nhiều purin chứa nhiều nguy cơ gây bệnh nhất. Ethanol tăng sản xuất acid uric do đẩy nhanh chu chuyển adenoise triphosphate (ATP). Nếu dùng 15-30g rượu/ngày, nguy cơ bị gout sẽ tăng gấp 1,5 lần và tăng gấp đôi nếu uống 30-50g/ngày. Ăn nhiều hải sản làm tăng 50% nguy cơ gout và tỉ lệ này với những người ăn nhiều thịt là 40%.

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động triệu chứng

  • Gout thứ phát: chiếm 2-5% các trường hợp bị gout với nguyên nhân chủ yếu là do suy thận mạn tính và sử dụng thuốc lơi tiểu.

+ 2 bệnh thận thường gặp là suy thận đa nang và nhiễm độc chì. Ngộ độc chì gây tăng AU. Tỷ lệ bị gout do nhiễm độc chì dao động trong khaongr từ 6-50%.

+ Việc dùng các thuốc lợi tiểu như thiazid, furosemid là nguyên nhân quan trọng gây gout thứ phát do làm giảm mức lọc cầu thận, tăng tái hấp thu urat. Một số loại thuốc như aspirin liều thấp,pyrazinamid, ethambutol, ethanol,cyclosporin hay heparin đưỡng tĩnh mạch cũng gây tăng AU và dẫn đến gout thứ phát.

+ Một số nguyên nhân khác được cho là gây ra gout thứ phát có thể kẻ đến đó là: bệnh máu, bệnh vảy nến diện rộng, suy cận giáp, suy giáp, chấn thương, phẫu thuật, chảy máu, nhiễm khuẩn, carcinoma.

  • Gout do các bất thường về enzim: bệnh chiếm tỉ lệ rất nhỏ và là bệnh di truyền do thiếu hụt hoàn toàn hoặc một phần enzym HGPRT, hoặc tăng hoạt tính của enzym PRPP

+ Bệnh não tăng acid uric Lesch Nyhan do thiếu hoàn toàn men HGPRT (hypoxathine-guanine phosphoribosly-tranferase). Bệnh kết hợp bệnh não với hành vi tự cắt xẻo, gout nặng, sỏi thận. Đặc biệt bệnh chỉ gặp ở bé trai.

+ Thiếu hụt một phần HGPRT: bệnh chỉ gặp ở bé trai, không bị chậm phát triển trí tuệ. Bệnh bắt đầu sớm, trước tuổi 25, gây gout nặng và sỏi thận.

+ Tăng hoạt tính của enzym PRPP (phosphoribosly-pyrophosphate synthetase) và là bệnh hiếm gặp.

Triệu chứng nhận biết bệnh gout?

Gout được coi là vua của các loại bệnh và là bệnh của các vị vua. Bệnh thường kéo đến đột ngột mà không báo trước, thường xảy ra vào giữa đêm. Dấu hiệu điển hình của bệnh gout là đau khớp dữ dội, viêm và sưng tấy, nóng đỏ. Hình thức chính của gou là các đợt gout cấp. Những đợt đầu thường chỉ ở một cấp kết hợp các triệu chứng toàn thân. Sau đó là những đợt viêm đa khớp, kết hợp với sốt và kéo dài trong khoảng thơi gian nhất định. Dần dần các đợt tái phát mau hơn, kéo dài hơn và không khỏi hoàn toàn dẫn đến viêm khớp mạn tính. Gout thường ảnh hưởng lên ngón chân cái, ngoài ra cũng có thể ở mắt cá chân, đầu gối, khuỷu tay, cổ tay và ngón tay.

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động 4

Gout được tiến triển qua 4 giai đoạn và mỗi giai đoạn được đặc trưng bởi các triệu chứng khác nhau:

Giai đoạn 1: Tăng axit uric máu không triệu chứng

Giai đoạn này axit uric trong máu tăng dần mà không có bất kỳ triệu chứng bên ngoài như viêm khớp hay sỏi urat thận do đó, việc điều trị là không cần thiết. Tuy nhiên, tinh thể urate đang tích tụ tại các mô, khớp nhưng không đáng kể. Trong đa số các trường hợp thì sau 20 năm tăng acid uric máu gout mới xuất hiện. Và khoảng 10-40 bệnh nhân gout có cơn đau quặn thận trước khi xảy ra đợt viêm khớp đầu tiên.

Giai đoạn 2: Gout cấp tính

Đợt gout cấp đầu tiên thường khởi phát trong độ tuổi 40-60 ở nam giới và sau 60 tuổi ở nữ giới. Trong giai đoạn này, tình trạng tăng axit uric máu làm lắng đọng tinh thể muối urate trong khoảng trống giữa các khớp xương, dẫn đến sự xuất hiện đột ngột của các cơn đau dữ dội. Một số triệu chứng mà người bệnh có thể tự nhận biết như:

  • Rối loạn thần kinh: đau đầu, trạng thái kích thích, mệt mỏi
  • Rối loạn tiêu hóa: đau thượng vị, táo bón, ợ hơi
  • Rối loạn tiết niệu: đái nhiều, đái rắt
  • Các triệu chứng tại chỗ như khó cử động chi dưới, nổi tĩnh mạch, tê bì ngón cái.

Cơn Gout cấp tính có thể xuất hiện vào ban đêm mà nguyên nhân có thể là do stress, uống rượu bia, sử dụng chất kích thích hoặc do cơ thể đang gặp bệnh lý nào đó. Gout cấp tính thường lắng dịu sau khoảng 3-10 ngày ngay cả khi không điều trị. Cơn tấn công tiếp theo có thể xảy ra trong vài tháng hoặc vài năm sau đó.

Giai đoạn 3: Tổn thương khớp giữa các đợt Gout cấp

Thời gian từ cơn gout cấp đầu tiên cho tới giai đoạn này thường cách nhau 5- 10 năm tuỳ theo thể trạng và chế độ ăn uống từng người. Ở giai đoạn này các đợt tấn công không còn thường xuyên và theo chu kỳ, bệnh nhân không có cảm giác đau và khớp hoạt động bình thường. Tuy nhiên, các tinh thể muối urate vẫn tiếp tục hình thành và lắng đọng tại các khớp. Các cơn đau sẽ được kiểm soát nếu duy trì axit uric ở mức 6.0 mg/dl.

Giai đoạn 4: Gout mạn tính

Giai đoạn cuối cùng này là giai đoạn suy sụp nhất của bệnh với khoảng cách thời gian so với đợt gout cấp đầu tiên dao động từ 3-42 năm và trung bình là 11,6 năm. Gout mạn tính có các biểu hiện như hạt tophi, khớp mạn tính do muối urat hay bệnh thận do gout. (2)

Điều trị gout như thế nào?

Hiện nay chưa có phương pháp điều trị dứt điểm hoàn toàn bệnh gout vì thế chỉ có thể điều trị các cơn gout cấp tính, dự phòng các cơn gout tái phát và điều trị dự phòng các biến chứng gây ra do bệnh gout mạn tính theo nguyên tắc:

  • Điều trị triệu chứng: chống viêm khớp khi có các cơn gout cấp. Điều trị các tổn thương khi bệnh ở giai đoạn mạn tính ( hạt toophi, tổn thương khớp và thận…)
  • Điều trị theo cơ chế sinh bệnh: giảm acid uric máu
  • Điều trị theo nguyên nhân gây bệnh
  • Điều trị kéo dài để phòng cơn gout cấp tái phát

Điều trị cơn gout cấp tính bằng các thuốc chống viêm không steriod, colchicin, corticosteroid.

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động 5

Điều trị dự phòng cơn gout cấp tái phát bằng cách kiềm hóa nước tiểu, chế độ ăn uống giảm kalo, giảm đạm, ăn nhiều hoa quả, rau xanh, loại bỏ hoàn toàn đồ uống có cồn và cafein, uống nhiều nước và cố gắng từ bỏ mọi loại thuốc có khả năng làm tăng AU. Chế độ sinh hoạt hợp lý, tránh lao động quá sức hoặc làm việc nặng gây nên các chấn thương có thể khởi phát cơn gout. Dùng các thuốc hạ AU máu theo chỉ định của bác sĩ.
Điều trị gout mạn tính bằng các biện pháp như kiềm hóa nước tiểu, sử dụng thuốc chống viêm khi có các cơn gout cấp, điều trị tổn thương xương khớp kết hợp dùng thuốc giảm AU. Trường hợp bệnh nặng cần nhập viện điều trị có thể nội soi rửa khớp gối hoặc phẫu thuật cắt bỏ hạt tôphi.(3)

Chế độ dinh dưỡng tốt giúp phòng tránh bệnh gout

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các triệu chứng gout và đặc biệt là ngăn ngừa bệnh. Thực đơn được khuyến khích là

  • Ăn ít đạm, tổng lượng thịt hoặc cá… (đạm động vật, đậu đỗ khoảng 150 g/ngày.
  • Hạn chế sử dụng thức ăn chứa nhân purin như ngũ cốc, các loại hạt, bơ, mỡ, đường, trứng, sữa, phomat, rau quả. Hạn chế thức ăn chứa nhiều acid uric như: thịt, cá, hải sản, gia cầm, óc, gan, bầu dục, đậu đỗ.
  • Tránh tuyệt đối đồ uống có cồn và chất kích thích như rượu, bia, cà phê, chè vì nó làm giảm khả năng bài xuất axcid uric qua thận hậu quả là làm tăng lactat máu.
  • Uống nhiều nước, tối thiểu 2l/ngày
  • Duy trì cân nặng ở mức độ hợp lý bằng cách kiểm tra BMI. Nếu người thừa cân và béo phì không nên giảm cân quá nhanh mà nên giảm cân từ từ bằng việc tập thể dục và chế độ ăn uống hợp lí chứ không nên nhịn ăn nhưng cũng không nên lao động hay hoạt động quá sức.
  • Không ăn thức ăn có vị chua (quả chua, dưa chua, cà muối…).
  • Không ăn phủ tạng động vật, nước luộc thịt, nước sườn, cá hộp, thịt hộp.
  • Không ăn thực phẩm có chứa cacao, chocolate.
  • Nên ăn đa dạng các loại thực phẩm để bổ sung các chất dinh dưỡng cần thiết.

Bệnh gout và thực trạng đáng báo động chế độ ăn

Một thực đơn mẫu cho bệnh nhân bị gout cấp tính được tính toán như sau: 

Với người có trọng lượng 50kg, tổng năng lượng đưa vào chỉ nên dừng ở con số 1.600 kcal/ngày. Trong đó:

– Đạm (protein): 10% tổng năng lượng = 40 g = 160 kcal.

– Đường bột: 75% tổng năng lượng = 300 g = 1.200 kcal.

– Chất béo: 15% tổng năng lượng = 27g = 240 kcal.

– Rau quả ăn tùy ý.

Với bệnh nhân gout mạn tính thì cũng áp dụng chế độ ăn thông thường nhưng cần lựa chọn thức ăn: hạn chế thức ăn nhiều purin, protein không quá 1 g/kg cân nặng. Như vậy, đạm động vật và đậu đỗ không nên quá 100 g/ngày. (4)

Share.

Leave A Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.